Saturday, 8 February 2014

Hội làng Yên Khê



Tải về ( đã tải : lần )
  Kính thưa các quý vị.
  Nhân dịp đầu Xuân,  năm mới tôi xin thay lời cán bộ và nhân dân trong thôn,
Kính chúc các đồng chí lãnh đạo.
Kính chúc các nhà sư bản tự
Kính chúc hai giới các cụ, khách quý thập phương xã gần.
Luôn dồi dào sứ khỏe , an khang thịnh vượng, phúc đức viên dung, vạn sự đắc thành.


   Việt Nam đất nước ta có 54 dân tộc anh em cùng chung sống trên khắp ba miền Bắc – Trung – Nam. Suốt nhiều thế kỷ, làng là đơn vị tụ cư cổ truyền lâu đời ở nông thôn người Việt. Từ thời Hùng Vương, làng được gọi là chạ.  Người Khơme gọi nơi tụ cư của mình là sóc ,  Các dân tộc thiểu số phía Bắc gọi  bản, mường. Buôn  là của các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên.
 Làng của những người làm nghề chài lưới được gọi là vạn chài.
  Làng truyền thống điển hình thời trung và cận đại là một tập hợp những người có thể có cùng huyết thống, cùng phương kế sinh nhai trên một vùng nhất định. Làng ̣được xem có tính tự trị, khép kín, độc lập. 
  Xuất phát từ các cộng đồng đó trải qua nhiều thế hệ phải di cư do mưu sinh cuộc sống, do loạn lạc binh đao, từ đó hai tiếng Quê Hương dần dần được định hình, khắc họa đậm nét trong tâm thức của mỗi người dân Việt.
   Đất nước ta, dân tộc Việt Nam ta là một, nhưng mỗi quê Hương của người dân Việt lại có những nét rất riêng của miền quê đó.
 Vùng đất thôn Yên Khê  ngày nay xưa kia là một vùng đất hoang dã có nhiều loài động, thực vật sinh tồn.
   Tương truyền trong nhân gian có nêu, vào khoảng những năm 257 TCN đến 208 TCN một lần vua An Dương Vương cùng các quần thần đi vi hành ngang qua Tào Khê, thấy mảnh đất an bình, cỏ cây hai bên bờ xanh tốt, phong thủy hài hòa nên đã gọi con sông  là Tào Khê (Tào là nhỏ, khê là Sông – Sông nhỏ), đặt tên cho ngôi làng trên bờ sông là làng An Khê – An là an bình. (An Bình bên dòng sông).  Ngôi làng đó là làng Yên Khê của chúng ta ngày nay.
  Trải qua nhiều thế kỷ, bao thế hệ dân làng đã cần cù chịu khó lao động, tăng gia sản sản xuất, hưởng ứng tham gia các cuộc cách mạng chính nghĩa cùng dân tộc gìn giữ quê hương làng xóm và giống nòi. Trong giai đoạn đầy khó khăn về vật chất, nghèo nàn tri thức do đó lịch sử để lại qua văn tự rất mờ nhạt.
  Qua mỗi năm dân cư trong làng lại phát triển thêm, nhu cầu đất đai canh tác cần được khai khẩn mở rộng, thiên tai, giặc dã, trộm cướp cũng đe dọa xóm làng, do vậy nhân dân đã cùng góp công sức đắp cao thêm bờ sông Tào Khê để ngăn nước lũ, đắp lũy trồng tre quanh làng để đề phòng trộm cướp, ngoại sâm. Lũy làng xưa bao quanh tứ phía Đông - Tây - Nam - Bắc. Làng có ba Miếu, thờ các vị thần siêu nhiên. Có cổng Đình phía Tây làng, cổng Bến phía Bắc làng. Gần miếu là Điếm, dân làng thường cử người thay phiên nhau ra Điếm để canh chừng kẻ gian vào trộm cướp, trông đê điều phòng chống lũ lụt và cũng là nơi nghỉ ngơi tụ họp của người lớn, nô đùa của trẻ nhỏ.
 Trong thời gian này theo văn hóa của người Việt, xu thế của triều đình, Nho giáo và phật giáo phát triển rộng khắp trong cả nước.
   Hướng Đông làng có Chùa Trẻ,(xem trong Wikipedia) sự tích truyền rằng:  Xưa kia ở làng An Khê, cạnh gốc Ruối cổ có một cái ao lớn, trẻ chăn Trâu, trông đồng hay tụ tập nô đùa ở đó. Một hôm trẻ mục đồng
nặn ba hình người bằng đất sau đó thả xuống ao, sáng hôm sau lại tới đó chăn Trâu, thì ngạc nhiên thấy ba hình nhân không chìm mà nổi trên mặt nước và còn có đàn chim Quốc đang mổ vào hình nhân, đám trẻ thấy lạ bèn đuổi Quốc đi và vớt ba hình nhân lên tô thành pho tượng A Di Đà, tượng Phật Bà Quan Âm và tượng Đức Thánh Tăng, về làng quyên góp vật liệu, tiền bạc làm nên ngôi chùa và gọi là chùa Trẻ. Chùa còn có tên là Mục Ngưu Tự. Cũng qua sự tích này làng Yên Khê xưa có lễ hội đuổi Quốc diễn ra ngày mồng 4 tết hàng năm, trong buổi lễ người nào bắt được chim Quốc thì được trưởng làng phát thưởng.
  Ngôi chùa phía Tây làng có tên gọi là Hoa Khê Tự. Cửa Chùa nhìn về hướng Tây-  Hoa Khê Tự được xây dựng vào thời nhà Lý . Khi đó các đời vua Lý chú trọng xây dựng chùa chiền, đúc chuông, tô tượng.  Các chùa lớn và nổi tiếng là chùa Dâu, chùa Phật Tích, chùa Dạm (Bắc Ninh), đã được xây dựng vào thời Lý,  theo đó các quan lại, chức sắc, các quý tộc và nhân dân cũng đóng góp xây dựng nhiều chùa ở các địa phương. 
   Theo truyền thuyết ngôi chùa Hoa Khê (Hoa Khê Tự) được xây bên cạnh một hồ Sen lớn, do vậy nên có tên Hoa Khê.
   Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chùa là nơi hội họp bí mật của cán bộ Việt Minh. Từ đây nhiều phương án tác chiến mang tính quyết định của du kích Việt minh chỉ đạo được ban hành, làm cho quân giặc tổn thất đáng kể.         

  Do vậy Thực dân Pháp đã đưa xe tăng, vũ khí về phá hủy hoàn toàn. Sau đó các nhà sư bản tự chuyển Chính điện và Bái đường vào Tăng đường. Trong kháng chiến chống Mỹ, chùa là nơi học tập của các con em trong thôn, chùa cũng là nơi chứa lương thực cho quân đội và là trung tâm chỉ huy của đơn vị TNXP.
Trong Chùa có câu đối chữ nôm:
Công đức trùng tu xong cột miếu.
Ghi linh do tại nhất bi minh.
Nghĩa là:
Công đức lưu dấu ở hai cột Miếu.
Mẫu mực vẫn còn lưu trên một bài minh bia.
  Trong khuôn viên chùa có đền  thờ QuốcNguyên Lão Hoàng Ngũ Phúc  (1713-1776) quê xóm Gianh, thôn Khang Cù, xã Phụng Công, huyện Yên Dũng, trấn Kinh Bắc (Nay là thôn Tân Phượng xã Tân Mỹ huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang). Làm quan dưới triều Lê Cảnh Hưng qua hai đời chúa Trịnh, là Trịnh DoanhTrịnh Sâm.     
  Theo Gia phả Hoàng Đình lưu truyền:  Quốc Nguyên Lão Hoàng Ngũ Phúc  cho nhân dân xã Yên Khê một số ruộng công điền.
   Phía Bắc An Khê có Đền An Khê. Đền xây dựng trên một gò đất cao, bên cạnh dòng sông nhỏ Tào Khê . Cửa Đền nhìn hướng Huyền Vũ. Gần trước Đền là hồ nước rộng lớn. Đền là nơi thờ Chính Trưởng Thái Bà Công Chúa, dương cảnh hiển linh, Quý minh Đại Vương.
Lưu truyền nơi đền câu đối:
‘‘Nhất phiến thành tâm thông thượng giới.
Thiên ban thụy khí giảng nhân gian’’
Có nghĩa là:
Một tấm lòng thành thông lên thượng giới
Muôn luồng khí tốt tỏa xuống trần gian’’
   Từ những sự tích xưa khi các sỹ tử lều chõng đi ứng thí đều đến Đền An Khê dâng lễ báo cáo cầu mong đỗ đạt, mong có ngày vinh quy bái tổ,  gia đình vinh hiển, dòng tộc rạng danh, xóm làng tự hào ngưỡng mộ . Tín ngưỡng này còn lưu truyền cho đến ngày nay và sẽ có giá trị mãi mãi sau này.
  Phía Nam An Khê làng có thắng nghiêm Đình, Đình được Khánh quận công Hà Công Dong thời Lê Trung Hưng cung hậu. Ông vốn tổ tiên là người ở tổng Chu Túc (châu Điềm He, Lạng Sơn), đến đời Hà Công Dong thì xuống Kinh Bắc cư trú và lấy vợ là Hoàng Quý Thị quê làng Đò (Mỹ Độ hiện nay) . Ông đem tiền giúp dân xây dựng đình năm 1676, kiến trúc tổng thể độc mộc gỗ Lim, chạm khắc phong phú và sinh động , với các mảng hoa văn khắc nổi về các đề tài tứ linh, tứ quí….…dân làng tôn ông là Thành hoàng làng.
   Hiện nay Đình Lũ Phú  xã Xuân Phú, huyện Yên Dũng nơi thờ ông và phu nhân là thành hoàng làng, hàng năm vào ngày mồng 8 mồng 9 tháng giêng dân làng mở hội để báo công tri ân thành hoàng
  Có nguồn còn truyền rằng sau khi khánh thành Đình An Khê Khánh quận công tụ họp dân làng làm cỗ ăn mừng linh đình 3 ngày. Ngày mồng 8, mồng 9, mồng 10. Từ đó thành thông lệ đến ngày đó dân làng lại tụ họp làm cỗ để cùng vui mừng. (Theo quan niệm của người Việt cổMồng chín vía Trời, mồng mười vía Đấtnghĩa là mồng Chín Trời sinh, mồng 9 đất sinh)
  Trải qua một thời gian dài loạn lạc, phần lớn dân làng phải li hương, cuộc sống mưu sinh ơ cực nhưng không ai quyên ngày mồng 9 tháng giêng, dù không có điều kiện làm cỗ to ăn mừng đãi khách, thì cũng có chút gạo nấu với vài con Hến bắt dưới sông Tào Khê làm ấm lòng bè bạn .
An Khê mở hội ba ngày.
Đóng đám ăn hến, hỏi dầy hay không?
Người xưa để lại chỉ hai câu ca dao đặc tả ngày hội làng, vậy mà qua đó người đời sau có thể hình dung đầy đủ khung cảnh cũng như ý nghĩa của ngày hội.
Kính thưa các quý vị! 
  Làng Yên Khê qua bề dầy lịch sử đã phát triển không ngừng về mọi mặt, diện tích đất đai mở rộng, dân cư đông đúc, tri thức nâng cao, kinh tế phát triển.  Nhưng cũng có những giai đoạn xóm làng tiêu điều sơ xác, bởi thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh loạn lạc. Song với tinh thần tự tôn dân tộc, dòng máu lạc hồng nhân dân thôn Yên Khê một lòng yêu nước, yêu quê hương, phò chính nghĩa, đánh đuổi ngoại xâm, bài trừ gian thần nổi loạn. Đồng lòng với tư tưởng tiến bộ cùng dân tộc đi hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong chiến tranh chống đế quốc Pháp, Yên Khê là một trong những cái nôi của cách mạng. Đình, Chùa, Đền, Miếu là nơi hội họp của dân quân du kích, cán bộ Việt Minh, lũy làng của người An Khê xưa là trận địa, chiến hào  cản phá quân giặc. Nhiều trai tráng, nữ thanh của làng hăng hái tham cách mạng.  Thành tích của nhân dân Yên Khê đã tô thêm những trang sử đẹp, góp phần làm rạng danh quê hương xã Song Khê.  
  Để ghi nhận công lao của nhân dân xã Song Khê đã đóng góp cho cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, nhà nước ta trao tặng  danh hiệu:  Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
    Sau hai cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc. Nhân dân thôn  Yên Khê cũng nhân dân cả nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam chúng ta bắt tay tái thiết xây dựng quê hương, phấn đấu học tập nâng cao trình độ kiến thức.
   Từ năm 2000 trở lại đây mỗi năm trong thôn có từ 8 đến 12 con em thi đỗ vào các trường Đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp.
   Dân làng đã xây dựng cơ bản hoàn chỉnh các công trình phúc lợi phục vụ dân sinh, như: Đường bê tông, trường mầm non, hệ thống điện.
  Tu bổ các công trình tôn giáo, tín ngưỡng. Năm 2002 tu bổ Hoa Khê Tự, Mục Ngưu Tự. Năm 2005 tu bổ Đền An Khê, năm 2010 xây mới cổng làng, năm 2011 tu bổ lần 2 Mục Ngưu Tự.
   Đến nay dân số thôn Yê Khê có 1360 khẩu – 412 hộ gia đình.
   Những trang vàng lịch sử của thôn Yên Khê sẽ còn mãi mãi được các thế hệ hậu duệ viết tiếp.
Kính thưa các đại biểu!
  Hôm nay giữa khuôn viên Hoa Khê Tự, nơi hội họp của các chiến sỹ cách mạng cộng sản năm xưa, dưới bầu trời của tự do và hương vị ngọt ngào của mùa Xuân mới.
Ban tổ chức lễ hội, nhà sư bản tự, nhân dân thôn Yên Khê long trọng tổ chức lễ hội truyền thống của làng.
Thay mặt ban tổ chức
tôi xin tuyên bố khai mạc Lễ hội Xuân Giáp Ngọ 2014.


No comments :

Post a Comment